foto1 foto2 foto3 foto4 foto5


SĐT: 0835127257(Ext: 855)
Email: tttv.cs2@ftu.edu.vn
Ban Thông tin - Thư viện

THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

CƠ SỞ II TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TÌM HIỂU KINH NGHIỆM GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI WTO

VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ

                                                                                      ThS Nguyễn Tiến Hoàng[1]

 Tính đến ngày 11/01/2012, Việt Nam đã trải qua thời gian 5 năm với tư cách Thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới. Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho Việt Nam những thành tựu to lớn. Tuy nhiên, càng hội nhập sâu rộng thì càng không thể tránh khỏi những tranh chấp thương mại quốc tế. Trong quá trình hội nhập, mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam luôn là mục tiêu của các vụ kiện chống bán phá giá mà nguyên đơn thường là những nước phát triển như Hoa Kỳ hay Liên minh Châu Âu (EU). Cho đến nay, Việt Nam đã có những trải nghiệm quý giá qua vụ khởi kiện và thắng kiện Hoa Kỳ về việc Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm đông lạnh xuất khẩu của Việt Nam (DS404). Tuy nhiên, tính chất của các vụ kiện về chống bán phá giá tại WTO thường rất phức tạp. Do vậy, kinh nghiệm từ một vụ việc là chưa đủ để có thể đảm bảo sự thành công của Việt Nam ở các vụ kiện trong tương lai. Như vậy, bên cạnh việc phát huy những thành công và khắc phục những hạn chế từ vụ kiện với Hoa Kỳ, Việt Nam cần tích cực nghiên cứu và vận dụng kinh nghiệm từ các Thành viên khác trong WTO.

Bài viết này tập trung phân tích tình hình giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO thời gian qua, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm để Việt Nam tham khảo vận dụng nhằm đối phó tốt hơn với các vụ tranh chấp về chống bán phá giá trong thời gian tới.

1. Quy định của WTO về chống bán phá giá

 Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO (ADP), “Một sản phẩm bị coi là bán phá giá (tức là được đưa vào lưu thông thương mại ở một nước khác với giá thấp hơn trị giá thông thường của sản phẩm đó) nếu như giá xuất khẩu của sản phẩm được xuất khẩu từ một nước này sang một nước khác thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương tự được tiêu dùng tại nước xuất khẩu theo các điều kiện thương mại thông thường”[2] . Cũng theo định nghĩa tại Hiệp định này, sản phẩm tương tự được hiểu là “sản phẩm giống hệt, tức sản phẩm có tất cả các đặc tính giống với sản phẩm đang được xem xét, hoặc trong trường hợp không có sản phẩm nào như vậy thì là sản phẩm khác mặc dù không giống ở mọi đặc tính nhưng có nhiều đặc điểm gần giống với sản phẩm đang được xem xét”[3].

Theo quy định của WTO, nước nhập khẩu chỉ được áp dụng các biện pháp chống bán phá giá khi xác định được đủ ba điều kiện sau đây:

Hàng nhập khẩu bị bán phá giá; - Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước nhập khẩu bị thiệt hại đáng kể; - Có mối quan hệ nhân quả giữa hàng nhập khẩu bán phá giá và thiệt hại nói trên. Như vậy, quy định của WTO về chống bán phá giá trong Hiệp định ADP như trên là rất rõ ràng. WTO cũng quy định chi tiết về cách xác định việc bán phá giá và xác định thiệt hại cũng như các biện pháp chống bán phá giá. Các quy định này là cơ sở để các Thành viên tổ chức này vận dụng cho các vụ việc liên quan, đặc biệt là các tranh chấp phát sinh.

2. Tình hình giải quyết tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá

2.1. Về số lượng vụ việc

Bảng 1 dưới đây cho biết số lượng các vụ tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO giai đoạn 1995-2011.

Bảng 1. Số vụ tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO qua các năm (1995-2011)

Năm

Tranh chấp về chống bán phá giá

Tranh chấp tại WTO

Tỉ lệ (%)

1995

1

25

4,00

1996

3

39

7,69

1997

3

50

6,00

1998

6

41

14,63

1999

8

30

26,67

2000

10

34

29,41

2001

6

23

26,07

2002

7

37

18,92

2003

6

26

23,08

2004

8

19

42,11

2005

4

11

36,36

2006

8

21

38,10

2007

1

13

7,69

2008

5

19

26,32

2009

3

14

21,43

2010

5

17

29,41

2011

5

8

62,50

Tổng

89

427

20,80

(Nguồn:http://wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6#selected_agreement)

Số liệu từ Bảng 1 cho thấy vào năm 1995 – năm đầu tiên cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO đi vào hoạt động, số vụ việc liên quan đến vấn đề chống bán phá giá chỉ khiêm tốn ở con số 1 và chỉ chiếm 4% tổng số vụ tranh chấp tại WTO. Điều này một phần lớn là do các nước đang phát triển (nguyên đơn chủ yếu của các tranh chấp về chống bán phá giá) chưa tin tưởng vào cơ chế giải quyết tranh chấp mới của WTO, các nước này chưa xác định được liệu cơ chế của WTO có thật sự khác biệt so với cơ chế của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại năm 1947 (GATT 1947) hay không. Trước đó, các nước đang phát triển luôn có thái độ nghi ngờ hoặc e dè với cơ chế giải quyết tranh chấp của GATT 1947. Tuy nhiên, tính ưu việt của cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO so với GATT 1947 dần củng cố niềm tin của các nước xuất khẩu và cùng với tình trạng áp đặt thuế chống bán phá giá vô lý ngày càng phổ biến của các nước nhập khẩu đã thúc đẩy các nước xuất khẩu mạnh dạn đệ đơn lên WTO. Kết quả là trong những năm tiếp theo, số tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO không ngừng gia tăng và đạt đỉnh vào năm 2000 với 10 vụ kiện, chiếm gần 30% tổng số tranh chấp. Đặc biệt, năm 2011, số lượng vụ tranh chấp về chống bán phá giá đạt mức 62,5% tổng số tranh chấp (5/8 vụ việc). Điều này cho thấy rằng tranh chấp về chống bán phá giá luôn là một phần quan trọng trong hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO và các nước xuất khẩu đã và đang nhận thức được quyền lợi của mình trong hệ thống này.

2.2. Về sự tham gia của các Thành viên

Bảng 2 dưới đây cho thấy sự tham gia của các Thành viên WTO vào các vụ tranh chấp về chống bán phá giá.

Bảng 2. Số vụ tranh chấp về chống bán phá giá phân theo nhóm nước

(tính đến ngày 31/12/2011)

Thành viên phát triển

Thành viên đang phát triển

Tổng

Nguyên đơn

34

Nguyên đơn

65

99

Bị đơn

55

Bị đơn

34

89

(Nguồn:http://wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6#selected_agreement)

Sở dĩ có sự chênh lệch giữa tổng số nguyên đơn và bị đơn là do có một số vụ tranh chấp có nhiều hơn một nguyên đơn. Bảng 2 cũng cho thấy số nguyên đơn là các nước đang phát triển gần gấp hai lần số nguyên đơn là các nước phát triển. Ngược lại, số bị đơn là nước phát triển bằng 1,62 lần so với các nước đang phát triển. Đây là những con số ấn tượng, qua đó cho thấy các nước đang phát triển đã và đang sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO như một công cụ hữu hiệu để bảo vệ lợi ích của mình trong các vấn đề liên quan đến chống bán phá giá.

2.3. Về mức độ tuân thủ các phán quyết và khuyến nghị

Bảng 3 dưới đây cho thấy mức độ tuân thủ của các bên đối với các phán quyết và khuyến nghị của Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO (DSB).

 

Bảng 3. Tình hình thực hiện phán quyết và khuyến nghị của DSB

về các tranh chấp liên quan đến chống bán phá giá (tính đến ngày 31/12/2011)

Tình hình thực hiện

Số vụ việc

Đang trong quá trình thực hiện phán quyết

10

Bên bị đơn thông báo hoàn thành thực hiện phán quyết

13

Bên nguyên đơn hài lòng với việc thực hiện phán quyết của bên bị đơn

4

Tiến hành rà soát việc thực hiện phán quyết

1

Rà soát kết thúc và phát hiện việc không tuân thủ phán quyết

3

Yêu cầu trả đũa được đưa ra

2

Yêu cầu trả đũa được chấp nhận

3

Tổng số phán quyết phải thực hiện

36

(Nguồn:http://wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6#selected_agreement)

Căn cứ vào quy trình thực hiện phán quyết được quy định tại WTO, có tổng cộng 8 vụ việc về chống bán phá giá là chắc chắn có sự không tuân thủ các phán quyết và khuyến nghị của DSB, chiếm 22,22% số phán quyết phải thực hiện và 9% số tranh chấp liên quan đến vấn đề chống bán phá giá. Một điểm đặc biệt là trong 427 tranh chấp được đưa ra WTO thì có tổng cộng 16 vụ việc chắc chắn có sự không tuân thủ của bên thực hiện và trong 16 vụ việc này lại có đến 8 vụ về chống bán phá giá[4] . Từ đó có thể thấy rằng các phán quyết về chống bán phá giá có khả năng không được thực hiện đầy đủ nhất trong WTO. Trong 8 vụ việc về chống bán phá giá có sự không tuân thủ nêu trên thì có đến 5 vụ việc có bị đơn là Hoa Kỳ. Đây là lưu ý quan trọng đối với Việt Nam vì Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu hàng hóa chủ lực của Việt Nam hiện nay.

3. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Phân tích tình hình giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO giúp rút ra nhiều bài học có giá trị đối với Việt Nam, tiêu biểu là các bài học sau:

Thứ nhất, mạnh dạn và tích cực tham gia vào cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO, đặc biệt trong các vụ kiện liên quan đến chống bán phá giá.

            Thực tiễn giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO thời gian qua cho thấy phần lớn các nước đang phát triển đã thắng kiện các nước phát triển trong các vụ tranh chấp. Trong vụ kiện Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm xuất khẩu (DS404), Việt Nam cũng đã giành thắng lợi. Điều này cho thấy bài học kinh nghiệm đầu tiên đối với Việt Nam là phải mạnh dạn và tích cực đưa các tranh chấp về chống bán phá giá ra trước WTO để bảo vệ quyền lợi chính đáng.

Thứ hai, cần một sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước để đạt được thành công trong những tranh chấp về chống bán phá tại WTO.

            Sự phối hợp này được thể hiện ở sự phân công rõ ràng và tập trung các vấn đề về giải quyết tranh chấp chống bán phá giá nói riêng và tổng thể các tranh chấp tại WTO nói chung ở một cơ quan chuyên trách của Nhà nước; không dàn trải quyền và trách nhiệm cho nhiều cơ quan khác nhau vì không những quá trình chuyển tải thông tin giữa các cơ quan làm chậm việc ra quyết định (đặc biệt là các quyết định cấp bách) mà còn gây trì trệ hoặc thậm chí không đưa ra được giải pháp bởi những xung đột nảy sinh khi có sự tham gia của quá nhiều cơ quan khác nhau. Đây là điều mà Bangladesh đúc kết được trong vụ kiện Ấn Độ áp thuế chống bán phá giá đối với pin nhập khẩu từ Bangladesh (DS306). Nhờ đó, Bangladesh đã giành thắng lợi trước Ấn Độ tại WTO.

Thứ ba, cần chuẩn bị đầy đủ bằng chứng, lập luận cũng như tài chính để theo đuổi các vụ kiện về chống bán phá giá tại WTO.

Từ kinh nghiệm của các nước đang phát triển khác, khi quyết định khởi kiện, Việt Nam cần chuẩn bị đầy đủ các bằng chứng và lập luận nhằm xác định rõ ràng sự vi phạm của nước bị kiện, phải chứng minh được có tồn tại chính sách hay biện pháp thương mại vi phạm quy định của WTO hay không, làm ảnh hưởng như thế nào đến quyền lợi của Việt Nam. Đối với trường hợp là bị đơn, cần chủ động kiểm tra lại xem biện pháp thương mại của ta có vi phạm các quy định của WTO hay không. Đồng thời phải yêu cầu Thành viên khiếu kiện chứng minh sự vi phạm mà họ đã nêu ra.

Cuối cùng chuẩn bị về tài chính để trang trải trong quá trình giải quyết tranh chấp. các vụ tranh chấp được giải quyết trong thời gian tương đối dài, phải tiến hành nghiên cứu, điều tra nhiều vấn đề có liên quan, có khi phải thuê luật sư nước ngoài nên chi phí cho việc giải quyết một vụ tranh chấp tại WTO là rất lớn, đặc biệt là các tranh chấp về chống bán phá giá, do tính chất phức tạp của nó, luôn tốn chi phí cao so với các vụ tranh chấp khác. Như vậy, Việt Nam quyết định đưa tranh chấp ra DSB thì phải chuẩn bị đủ những khoản chi phí tốn kém này.

Thứ tư, cần chuẩn bị một đội ngũ luật sư đủ khả năng tranh tụng trước WTO.

Các nước đang phát triển như Việt Nam thường không có một đội ngũ luật sư đủ khả năng tranh tụng tại WTO. Trong khi đó, việc giải quyết tranh chấp về chống bán phá giá tại WTO đòi hỏi sự tham gia của nhiều chuyên gia pháp lý giỏi. Trong đơn yêu cầu thành lập Ban hội thẩm, nguyên đơn cần có sự tư vấn từ phía các luật sư am hiểu sâu về WTO để có thể xác định chính xác biện pháp thương mại do bên bị đơn áp dụng đã vi phạm điều nào, khoản nào, hiệp định nào trong rất nhiều quy định của WTO. Khi đã có đầy đủ bằng chứng về sự vi phạm của Thành viên khác, nguyên đơn còn cần luật sư có khả năng ứng phó mau lẹ, có kiến thức sâu rộng, có khả năng thuyết phục người khác, có lập luận vững chắc để chứng minh cho quan điểm của nguyên đơn. Với bị đơn thì đội ngũ luật sư giỏi lại càng quan trọng để bảo vệ quyền lợi của bị đơn trước các cáo buộc của nguyên đơn. Như vậy, trong quá trình giải quyết tranh chấp tại WTO, việc chuẩn bị một đội ngũ luật sư đủ khả năng tranh tụng trước WTO là một yêu cầu rất quan trọng đối với Việt Nam.

Thứ năm, tận dụng tối đa những ưu đãi mà WTO dành cho các Thành viên đang phát triển.

Khi tham gia vào hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO, Việt Nam cần nghiên cứu kỹ để tận dụng tối đa những ưu đãi mang tính đối xử đặc biệt và khác biệt (S&D) mà WTO dành cho các Thành viên đang phát triển. Ví dụ như WTO có cơ chế dành những trợ giúp về mặt pháp lý và kỹ thuật cho các Thành viên đang phát triển. Nếu Việt Nam tận dụng được sẽ giúp giảm thiểu nhiều chi phí trong quá trình theo kiện.

Trong vụ tranh chấp DS404, Việt Nam cũng đã tận dụng tốt những ưu đãi này thông qua việc đề xuất bổ nhiệm thành phần Ban hội thẩm và đã được chấp thuận. Theo đó, Ban hội thẩm của vụ tranh chấp gồm ba thành viên là ông Mohammad Saeed, tham tán phái đoàn thường trực của Pa-kix-tan tại WTO; bà Deborah Milstein, thuộc Bộ Công nghiệp, Thương mại và Lao động Israel; và ông Iain Sandford, Giám đốc Tập đoàn thương mại quốc tế Ôx-trây-li-a[5] . Điều rất thuận lợi cho Việt Nam là ông Mohammad Saeed, thành viên duy nhất của Ban hội thẩm đến từ Pa-kix-tan – một nước đang phát triển ở khu vực Nam Á có nhiều điều kiện tương đồng với Việt Nam, được chọn làm Chủ tịch Ban hội thẩm. Việt Nam cần tiếp tục phát huy thành công này.

Tóm lại, việc phân tích tình hình giải quyết tranh chấp tại WTO về chống bán phá giá giúp mang lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam. Tuy nhiên, để vận dụng có hiệu quả các bài học này vào điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay, cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ và khả thi từ nhiều phía (Nhà nước, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp). Điều này đòi hỏi sự cố gắng và nỗ lực phối hợp của tất cả các bộ ngành, hiệp hội và doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu khẳng định vị thế của Việt Nam trong nền thương mại toàn cầu hiện nay./.

Tài liệu tham khảo:

1.      Nguyễn Vĩnh Thanh (2006), Các nước đang phát triển với cơ chế giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại thế giới, Nxb Lao động xã hội, Hà Nội.

2.      Hoàng Ngọc Thiết (2005), Giải quyết tranh chấp giữa các nước thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

3.      Ủy ban quốc gia về Hợp tác KTQT (2010) , WTO chỉ định Ban hội thẩm vụ kiện tôm Việt Nam, http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?2233, cập nhật 07/8/2010.

4.      WTO (2011), Disputes by agreement, country/territory & subject, http://www.wto.org, cập nhật 31/12/2011.

5.      WTO (1995), Hiệp định về chống bán phá giá (Hiệp định thực thi Điều VI của GATT 1994), http://www.wto.org/english/docs_e/legal_e/legal_e.htm.


[1] Trường Đại học Ngoại thương – Cơ sở II

[2] Điều 2.1, Hiệp định ADP.

[3] Điều 2.6, Hiệp định ADP.

[4] http://wto.org/english/tratop_e/dispu_e/dispu_agreements_index_e.htm?id=A6#selected_agreement

[5] http://www.nciec.gov.vn/index.nciec?2233


Copyright © 2017 Thư viện ĐH Ngoại thương CSII Rights Reserved.